Đời tôi, Marcel Reich-Ranicki.

Ảnh: FB Kafka Bookstore
Ảnh: FB Kafka Bookstore

Tôi muốn dùng tất cả lời khen của mình dành cho cuốn sách này, nhưng không biết phải viết sao mới đủ. Những gì cuốn sách đem đến quả là ngoài sức mong đợi, và những gì tôi nhận được quả tình khiến tôi choáng ngợp. Bao lâu rồi không có một cuốn sách viết chân tình, dễ hiểu và dí dỏm chừng này, mà lại khốc liệt và dữ dội tới vậy? Và bao giờ thế giới mới lại có một nhà phê bình văn chương đích thực như thế? Hay tôi đã mong đợi quá nhiều?

Nhưng nếu bạn đã đọc cuốn sách này rồi, thì thật khó để không mong đợi một điều gì đó từ cuộc sống. Cuộc sống đẹp vậy mà, bởi cuộc sống cho ta tình yêu và đam mê, cho ta nghệ thuật và cái đẹp. Bởi vậy mà cuộc sống dẫu khắc nghiệt và dữ dội, dẫu bạo tàn thì người ta vẫn tiếp tục hành trình của số phận. Marcel Reich-Ranicki, ông ấy đã dùng toàn bộ cuộc đời của mình để chứng minh rằng: tình yêu có thể cứu rỗi người ta biết nhường nào. Vào những giờ phút bi lụy hãi hùng nhất cuộc đời, chỉ có tình yêu mới đủ can đảm bước lại gần ta và an ủi, tiếp thêm sức mạnh. Nói những câu này bạn sẽ cho rằng thật sáo rỗng và ngây thơ, nhưng tôi tin rằng ngây thơ là một phần của hạnh phúc.

Marcel Reich có hạnh phúc không? Đọc những trang cuối cùng của cuốn tự truyện, tôi nghĩ rằng ông đã sống một cuộc đời hạnh phúc. Đó là cái hạnh phúc của một người trải nghiệm, ôm cả thế giới vào lòng bằng toàn bộ tình yêu, sự thấu suốt và cái nhìn tinh tế, sự nhẫn nại và hơn hết là lòng can đảm. Can đảm chính là viên gạch đầu tiên của hạnh phúc, dù Marcel sau này mới thừa nhận điều đó một cách dí dỏm, rằng là một nhà phê bình thì cần can đảm, như ông đã can đảm ăn món xúp kinh hoàng của một nhà văn đầy triển vọng để được trò chuyện cùng anh ta. Mọi thứ đều có giá phải trả, vấn đề là bạn có dám đánh đổi hay không mà thôi.

Đời tôi – Marcel đã đặt tên cho cuốn tự truyện của mình đơn giản như thế. Nhưng khác với những cuốn tự truyện đầy ắp hình ảnh cá nhân và những câu chuyện sặc mùi biện minh giải bày, Marcel hầu như thu mình lại trong cuộc đời của chính ông, chỉ còn lại đôi mắt. Đôi mắt phản chiếu thế giới xung quanh, thời đại, lịch sử, những quay cuồng biến động, đôi mắt nhìn vào tâm hồn mỗi người, đôi mắt tha thiết với văn chương, âm nhạc, kịch nghệ. Cho nên chúng ta có một cuốn sách đầy tư liệu lịch sử với một người kể chuyện bình tĩnh nhẫn nại và sáng suốt, người chưa bao giờ vì đau đớn mà nhìn nhận sai lạc, chưa từng để lòng căm thù thiêu đốt sự công tâm. Chúng ta có một cuốn sách tràn ngập văn chương và âm nhạc với những hiểu biết sâu rộng và tinh tế. Và chúng ta biết, thế giới này có một con người tuyệt vời như thế.

Cuộc đời Marcel là một chuỗi biến động không ngừng nghỉ, là những tháng ngày di cư từ vùng đất này sang miền đất khác. Như ông đã tự giới thiệu một cách dí dỏm đầu sách: tôi, nửa Đức, nửa Ba Lan, và hoàn toàn Do Thái, nhưng cuộc đời ông chưa từng nửa Đức hay Ba Lan, cũng không bao giờ sống như người Do Thái. Số phận của ông là không thuộc về một hệ quy chiếu dân tộc hay lãnh thổ nào, thậm chí ông không thuộc về bang hội đảng phái nào, dù danh nghĩa là có. Chỉ một mình Marcel biết ông thuộc về đâu, quê hương của ông suốt đời chỉ có một: ông thuộc về nền văn học Đức.

Nhờ Marcel, người ta yêu hơn văn học Đức, ông là người hướng ngòi bút phê bình của mình đến với đại chúng. Ông viết cho những người bình thường đọc, ông phổ cập và nhân rộng tình yêu văn chương. Nhờ ông mà tôi hiểu rằng tại sao nước Đức đã sản sinh ra một đội quân diệt chủng, nhưng nhân loại vẫn không thôi kính trọng người Đức. Nhờ ông mà tôi hiểu tình yêu có thể khiến người ta quên đi hận thù như thế nào. Nhờ ông mà người ta biết, thế nào là một nhà phê bình đích thực.

Nếu nói rằng đây là cuốn sách tôi thích thì không đủ. Đây là cuốn sách đầu tiên đem đến cho tôi cảm giác biết ơn và ngưỡng mộ, như ngưỡng mộ chàng Danko ngày xưa trong sách tôi học đã xé toang lồng ngực để thắp đuốc dẫn đường. Cho dù tất cả những gì mà Marcel lý giải đều vỏn vẹn trong vài chữ: vì yêu, thì đó cũng là một tình yêu xứng đáng được vinh danh và ngưỡng mộ, vì tất cả những gì mà nó được đánh đổi.

Nguồn: FB Kafka Bookstore

Hội hè miên man, Ernest Hemingway.

Ảnh: FB Kafka Bookstore
Ảnh: FB Kafka Bookstore

Cuốn sách này không có cốt truyện. Nó chỉ là nỗi nhớ miên man của Ernest Hemingway về những năm tháng thanh xuân ở Paris. Mà tuổi thanh xuân thường là những ký ức đeo bám trí nhớ người ta dai dẳng nhất, còn Paris thì chưa có ý định cho ai cơ hội để lãng quên về nó nếu đã đến đây.

Tôi chưa từng thích Hemingway. Tôi không thích cách ông viết những câu ngắn theo kiểu đơn giản hết mức có thể, cách ông tường thuật những đoạn đối thoại với những câu gạch đầu dòng rồi không thêm bớt và miễn bình luận về nó. Nói chung thì tôi không thích cảm giác bị rơi vào trong một cuốn phim tài liệu, hay một cái gì đó đại loại thế. Nhưng Hội Hè Miên Man là một cuốn phim tài liệu nồng nàng cảm xúc, cho dù vẫn là Hemingway với văn phong ngắn gọn không đoái hoài gì đến biểu cảm. Nhưng cần gì, nó đang kể về những năm tháng ở một nơi mà chữ nghĩa nhiều chỉ tổ đánh lạc hướng cảm xúc của người đọc. Và lần đầu tiên tôi thấy thích vô cùng sự ngắn gọn đầy khí chất ấy.

Nếu bạn may mắn được sống ở Paris trong tuổi thanh xuân thì dù có đi đâu trong suốt đường đời còn lại, Paris vẫn ở trong bạn, bởi Paris là một cuộc hội hè miên man.

Paris là một cuộc hội hè miên man, và thanh xuân của chúng ta cũng là một cuộc hội hè còn miên man hơn thế. Tuổi hai mươi của Hemingway tràn trề cảm hứng và nhu cầu được viết, còn Paris thì luôn có đủ chỗ cho bất cứ ai muốn sáng tạo, dù kẻ đó giàu sang hay nghèo kiết xác, mạnh khỏe tươi mới hay đã tàn tạ theo tháng năm. Paris có đủ bầu không khí rực rỡ lẫn u hoài, có những chốn từng bừng và những góc khuất lặng lẽ. Paris cho ta cảm giác về nỗi tràn trề lẫn niềm mất mát cũng như đủ sức nâng sự thiếu thốn lên tầm thơ mộng rồi hạ bệ sự đủ đầy xuống vực của chán ngán. Paris luôn là Paris, chỉ có người ta dường như là khác hơn khi đến đó.

Paris, nơi tề tựu của hầu hết những gương mặt nghệ sĩ sáng giá của nền nghệ thuật đương đại, nơi tôn vinh của những sự sáng tạo đầy ngông cuồng. Paris cho Hemingway cơ hội nhìn thấy cái đẹp của sự ngông cuồng ấy và cả cái giá phải trả cho nó. Tôi thích cách Hemingway kể chuyện mà không chút phán xét hay đánh giá gì. Có một chút tò mò của tuổi hai mươi, nhưng rồi ông chấp nhận nó ngay không ngần ngại. Bạn sẽ gặp rất nhiều nghệ sĩ tiên phong của thế kỷ 20 ở Paris, ngạo nghễ, buồn rầu, say mê, đau đớn. Bạn sẽ thấy họ qua đôi mắt của chính mình chứ không phải của Hemingway để rồi gấp cuốn sách lại, bạn sẽ thấy Hemingway, đầy hào sảng và tự tin đón nhận mọi sự khác biệt, một sự phóng khoáng rất điển hình mà có lần ông đã tự nhận xét về mình: “Tôi không phải là người Mỹ, tôi là nước Mỹ”.

Hemingway chưa bao giờ bỏ quên chất Mỹ của mình, dù đó là ở Paris cũng như Paris không hề biến thành một nơi chốn khác qua cái nhìn của một người Mỹ. Hemingway đã trải qua tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết ở đó, với tình yêu đằm thắm dành cho người vợ Hadley và ông con trai mũm mĩm Mr Bubby, đã sống những ngày đầy phấn khích với trò đua ngựa, đã ngắm nhìn những kiệt tác nghệ thuật với cái dạ dày trống rỗng, đã viết với tất cả lòng say mê. Hemingway đã thấy Paris, thấy tận tâm khảm nó, đã thấy ánh sáng rực rỡ của nó cũng như bóng tối phía sau ánh hào quang. Paris không thôi khiến người ta đam mê cũng như tuổi thanh xuân mãi mãi không thôi khiến người ta tiếc nhớ. Đó là một thời thật nghèo, mà hạnh phúc.

Nguồn: FB Kafka Bookstore

Những đứa con của nửa đêm, Salman Rushdie.

Ảnh: FB Kafka Bookstore
Ảnh: FB Kafka Bookstore

Nó đây, chính nó. Cuốn sách đã tước đoạt của tui hai tháng ròng rã, đã ném đời tui vô một mê cung hỗn độn của những câu chuyện rối tinh rối mù về một đất nước còn rối loạn kinh hơn cả thế, với một kẻ dẫn đường rất khủng khiếp, một kẻ mà người ta gọi là phù thủy, một kẻ biết thả bùa, biết trù quến và luôn cố tình đi lạc. Kẻ đó là Salman Rushdie còn cái xứ sở kinh dị ấy, ta gọi nó là Ấn Độ :))

Một cuốn sách cực kỳ khó đọc nhưng cực kỳ lôi cuốn. Nó lôi cuốn bạn trong lúc bạn thậm chí chả hiểu nó đang kể cái quái gì, như một kẻ bị ăn phải bùa mê thuốc lú. Nó dẫn bạn đi đến vấn đề một cách vô cùng quanh co, hỗn loạn, chuyện nọ xọ chuyện kia, hết sức mất trật tự. Salman Rushdie cứ thế thao thao bất tuyệt theo đúng nguyên tắc cái gì nghĩ tới trong đầu trước thì sẽ nhảy bổ ra giấy trước, và lỡ kẻ nào nói leo vào câu chuyện một chút thôi thì ông ta sẽ không ngần ngại mà đu theo cái kẻ nói leo ấy, đi cùng trời cuối đất. Một kẻ kể chuyện bất chấp trật tự, lớp lang, thế là một câu chuyện phi tuyến tính và một thế giới kỳ ảo huyền hoặc đã mở ra, với những hành trình bất tận.

Chỉ độ 10 trang thôi, và rồi bạn sẽ phát điên với cái lối dẫn đường tùy tiện của ông ta, tui biết. Cái kiểu phóng to thu nhỏ sự kiện vô cùng ngẫu hứng, lúc zoom in, khi zoom out, vừa mới soi tới ngón tay cái xong thì đã liên kết được ngay tới hàng lô lốc biến động chính trị trên toàn thế giới trong cùng thời điểm. Bạn sẽ điều tiết óc tưởng tượng và liên tưởng mệt nghỉ, sẽ vật vã và mất khả năng kiểm soát với cái kiểu điên khùng ấy. Với Salman Rushdie, không có chuyện đọc tới đâu hiểu tới đấy, chỉ có đọc hết toàn bộ thì mới có thể hiểu (và với tui, đọc hết rồi đọc lại lần 2 thì mới hiểu). Nhưng trong khi cả thế giới phát điên lên vì cái kiểu kể chuyện ấy, thì dân Ấn Độ xì một câu: có gì đâu mà ầm ĩ, chuyện ông ta kể tui cũng kể được, huyền ảo cóc khô gì :)). Thì đúng rồi, không ai hiểu chỉ một người rất hiểu, vì đó chính là em, vì em là Ấn Độ, và vì cuốn sách này, từ đầu tới cuối đã được Salman Rushdie tưới tắm cho một tinh thần Ấn Độ thật là bất diệt, và còn hơn cả thế.

Bởi vì Salman Rushdie rất tham vọng, cái tham vọng dám đem cuộc đời của một nhân vật đơn lẻ ra để phóng chiếu cho cả một dân tộc, dám truy ngọn nguồn của những biến động đau thương của dân tộc ấy về một khởi điểm là nỗi thống khổ cá nhân. Ông ấy đã tạo ra Saleem Sinai, đứa trẻ song sinh của đất nước Ấn Độ, đứa bé mang trong mình năng lực siêu nhiên, như chính cái đất nước mang trong lòng nó vô vàn câu chuyện thần thoại, tới mức thần thoại chính là một phần thực tế của cuộc sống. Cũng như số phận của dân tộc mà nó phản chiếu, Salem long đong lận đận và trôi dạt ngay từ khi nó mới sinh ra. Một đứa con lai bị tráo bọc, một kẻ bần cùng rơi vào tầng lớp thượng lưu để luôn phải sợ hãi cái bí mật của chính mình. Saleem, hay Ấn Độ, hay những dòng máu đã bị pha lẫn dòng máu của thực dân Anh, quay về bơ vơ trong cái huyết thống tưởng là của mình nhưng rồi xa lạ, hoang mang chới với với sự tự do và nền độc lập non trẻ chưa kịp thích nghi. Để rồi cả cậu và Ấn Độ, số phận của cả hai rơi vào vòng xoáy của những xung đột buổi giao thời, giữa xưa cũ và mới mẻ, giữa nền văn hóa phức tạp cũ kỹ và “sự khai sáng” của nước quốc mẫu để lại. Một thời đại hỗn loạn, một xã hội rối ren và con người cứ quanh co bế tắc trong những mâu thuẫn nội tại, không sao thoát ra được. Để rồi mặc lòng cho thời đại cuốn đi, mặc lòng cho sự phân ly, chia cắt rồi tan rã.

Ấn Độ mang gương mặt của đứa trẻ ngay giờ phút giành độc lập, gương mặt vĩnh viễn trẻ trung nhưng không sao trẻ hóa được tâm hồn già cỗi hỗn mang của nó. Tâm hồn trĩu nặng ưu phiền triền miên biết bao thế kỷ, tâm hồn chứa đựng cả nghìn xung đột từ tôn giáo đến sắc tộc đến giai cấp, tâm hồn loay hoay muôn thuở không tìm được một câu trả lời chung cho chừng ấy con người. Bởi thế một gương mặt Saleem Sinai là không đủ. Từ cái buổi giao thời ấy, vào cái đêm định mệnh ấy, không chí có số phận Salem bị buộc chặt vào số phận Ấn Độ, mà cái bóng của nó, cái bản thể đối lập của nó, đứa trẻ bị tráo bọc với nó cũng đã bị buộc chung vào. Như một hiện thân của sự hắc ám tồn tại trong nội thể, sự đen tối trong tâm hồn, Shiva, đứa con thực sự của dòng họ, đứa bé không may bị đẩy xuống sống cuộc đời tăm tối bần hàn để rồi lớn lên với cơ cực và bạo lực, đứa trẻ ấy cũng chính là Ấn Độ, một Ấn Độ mông muội, cực đoan nhưng thuần huyết, một Ấn Độ của cái ác và sự hủy hoại. Cái bóng muôn đời theo chân một đất nước vừa được hồi sinh.

Những đứa con của nửa đêm là một cuốn sách khó đọc, không chỉ vì lối kể chuyện rối rắm một cách cố tình của nó, không chỉ vì một khối lượng vấn đề đồ sộ được đặt ra trong cuốn sách, không chỉ vì những đầu dây mối nhợ chính trị giăng ngang kẻ dọc. Nó còn khó đọc bởi nó chứa trong mình nó cả một nền văn hóa vĩ đại, với những tầng sâu thăm thẳm lẫn bề rộng mênh mông, nó khó đọc bởi vì Salman Rushdie đã vận dụng hàng loạt điển tích điển cố, các câu chuyện thần thoại, sử thi và thậm chí là cả nghệ thuật châu Âu cũng không tha, cùng lối kể ẩn dụ vào câu chuyện vốn đã rất giống đống bùi nhùi của mình. Ông ấy cứ trộn lẫn tất cả chúng vào nhau để cho ra một món ăn sặc mùi cà ri không chạy vào đâu được.Ấn Độ ở đây rồi. Salman Rushdie đã làm công việc ông ấy cần phải làm để mô tả Ấn Độ, đó là bẻ gãy tất thảy các loại cấu trúc, bố cục, trật tự chỉ để lại một hổ lốn các câu chuyện mà cho dù bạn làm bất cứ cách gì thì chúng nó vẫn cứ dính chùm với nhau bền bỉ keo sơn không sao gỡ ra được.

Thỉnh thoảng tui cũng phải tự tha thứ cho chính mình nếu vấp phải một cái hố thuộc về văn hóa Ấn Độ tối om, tặc lưỡi bỏ qua vì không thể đào sâu hơn bởi vì đời người thì có hạn grin emoticon. Những gì cuốn sách này đem lại, giống hệt đất nước Ấn Độ nó phản chiếu, tầng tầng lớp lớp, một hai lần ghé qua không thấy hết được, cả đời ở đó có khi cũng không thấy hết được. Có thể vì lẽ đó mà người ta đã dúi vào tay ông ấy một cái giải Man Booker, rồi thêm chục năm sau, người ta thấy vẫn chưa ép phê, dúi thêm cho ông cái giải nữa có tên là Booker of Man Booker. Sau chừng ấy năm, người ta vẫn chưa thôi bị choáng ngợp :))

P/s: Bài viết trả nợ tình xa cho những người đã vì tui mà mua cuốn sách. Đặc biệt dành cho dịch giả cuốn sách này, cám ơn bạn vì một bản dịch mà tui hông biết chê đường nào cả. 😀

Nguồn: FB Kafka Bookstore

Nam tước trên cây, Italo Calvino.

Ảnh: FB Kafka Bookstore
Ảnh: FB Kafka Bookstore

Với cái tựa đề này, cùng với câu chuyện này, thoạt đầu tôi ngỡ là mình vừa xí được một vé đi tuổi thơ, tuổi thơ của một đứa con nít thích chuyện phiêu lưu viễn tưởng với thanh kiếm rạng ngời giắt bên hông, của những trưa nắng đòng đưa trên cây mơ mộng. Nhưng rồi đọc xong mới biết cái vé đó nó không đưa tôi đi về tuổi thơ, nó đã đưa tôi đi nơi khác.

Nơi khác đó là cõi nhân gian xanh mướt của Cosimo Mưa Giông, nam tước của xứ Bóng Râm, một thiên đường êm đềm mà rộn rã, gần kề mà cách biệt với đám đông, nơi những nhánh cây vươn mình một cách hữu hạn không ngăn nổi những chuyến phiêu lưu vô tận và niềm đam mê cuồng nhiệt của anh chàng nam tước. Nơi mà giấc mơ tuổi thơ đã được đẩy xa hơn một cách liều lĩnh, ngang tàng và kiêu ngạo. Khi tất cả chúng ta hồi còn là một đứa trẻ chỉ dám đứng dưới gốc cây và ước thì Cosimo đã thực hiện nó, đơn giản, dứt khoát với một lý do nhỏ bé như một cú hích nhẹ. Cosimo, trong một lần phản đối bữa ăn ốc sên của bà chị u sầu, đã trèo lên cây rồi không bao giờ xuống đất trở lại.

Khi giấc mơ tuổi thơ bị đẩy đi quá xa, nó không còn giành cho tuổi thơ nữa. Nó giành cho những người lớn đã chán ngán với đám đông ồn ã, a dua và uể oải trôi trong những định kiến xã hội. Nó là khát khao muốn tìm một chốn riêng tư, tách biệt nhưng không xa lánh thế gian, một nơi như Cosimo đang ở, êm đềm bay bổng phiêu lưu và cũng gần gũi cuộc sống. Hành động trèo lên cây của Cosimo ví như một cú tung mình lên khoảng không bao la để rơi vào một cõi chiêm nghiệm đầy ẩn dật, hay ngược lại, cũng có thể xem như một sự náu mình vào trong một thế giới ngút ngàn vô tận. Với những mâu thuẫn đó, cuộc sống trên cây của Cosimo trở nên huyền ảo với những không gian đóng mở không giới hạn, những cuộc phiêu lưu không bờ bến với những cuộc tình đầy chất thơ. Cosimo tự do với thế giới nhưng vẫn là một thành phần thuộc về thế giới. Tự do nhưng không hề lạc lõng.

Cosimo tạo lập cho mình cuộc sống ở trên cây, đầy đủ tiện nghi như dưới mặt đất và cũng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn của mình như đang ở dưới mặt đất. Cosimo học hành, ăn uống, tham gia nghị luận, như một nam tước bình thường. Và yêu đương như một kẻ si tình bình thường (rồi thất tình như một gã bình thường). Điều bất thường duy nhất chính là khoảng cách với đám đông mà Cosimo đã duy trì cho đến hết đời. Khoảng cách đó tạo ra vô vàn cái nhìn mới mẻ lạ lẫm, những khám phá và trãi nghiệm thú vị mà bất cứ ai thuộc về đám đông đều không có được. Trên những ngọn cây cao, xã hội phía dưới thu nhỏ lại trong một tổng thể bất an nhưng đầy trật tự rồi không ngừng thay đổi theo những cú tung mình của Cosimo. Tất cả đều được Cosimo ghi chép lại, nghiền ngẫm nhưng một kẻ luôn ưu tư về xã hội. Cuộc sống của Cosimo, tuyệt đối tự do nhưng vẫn tràn đầy trách nhiệm.

Hành trình khám phá thế giới trên những ngọn cây của Cosimo càng ngày càng mở rộng với những không gian đầy mê hoặc và dịu ngọt, lấp lánh những ánh sáng huyền bí của câu chuyện cổ tích hoang đường. Calvino để cho nhân vật của mình tung hoành trong tuổi thanh xuân tràn trề , không giới hạn giấc mơ và khát vọng, không giới hạn tình yêu và khổ đau để rồi khi tất cả qua đi, trên đỉnh cao của sự tự do, Cosimo nhận ra mình ngập chìm trong một nỗi cô đơn. Không có gì có được mà không phải đánh đổi, và cái giá của tự do chính là nỗi cô đơn. Những năm tháng về già, ngả bệnh, Cosimo đã chọn cây hồ đào giữa quảng trường để nằm nghỉ, như một cách tìm về với đám đông, được hòa mình giữa đám đông để quên đi sự đơn độc. Cosimo không sống chung với mọi người, nhưng chưa bao giờ rời khỏi ánh mắt mọi người, như một thứ mà tác giả của cuốn sách này gọi là “một tồn tại trong suốt gieo neo”, một sự hiện hữu chắc chắn nhưng không thể định vị. Cosimo là một thành phần không thể nắm bắt của cuộc sống, cho đến ngày tan biến vào cõi hư không.

“Nam tước trên cây” phảng phất một nỗi hoài niệm tuổi thơ, nhưng nó không dắt ta về tuổi thơ mà khiến ta đắm chìm trong một chiêm nghiệm về những ước vọng của cuộc sống. Cosimo là một nhân vật được hư cấu nên để phản ánh cái khát khao ngắm nhìn trọn vẹn thế giới mà vẫn ở trong thế giới, khát khao được riêng tư mà không cô đơn, được tách biệt mà không lạc lõng. Cosimo tạo lập một phong cách sống hòa nhập nhưng đầy cá biệt, một cái tôi lẻ loi nhưng không bị đám đông khước từ. Cuốn sách là một cuộc phiêu lưu trong tâm tưởng của những kẻ đi tìm tự do, đi tìm sự thanh thản nhẹ nhõm tuyệt đối trong đời.

Bắt trẻ đồng xanh, J. D. Salinger.

Ảnh: FB Kafka Bookstore
Ảnh: FB Kafka Bookstore

Ôi, mình khoái cha nội Holden Caulfield này quá. Dù cha nội này mới 17 tuổi, nói năng hàm hồ, văng tục tới từng milimet của mỗi trang giấy, dù hắn gọi bạn gái hắn là “con mẹ Sally”, dù hắn thi rớt 4 trên 5 môn và bị đuổi khỏi trường Pencey Prep- lần đuổi học thứ tư. Thì cũng đâu có sao.

Là vì hắn 17 tuổi. Đâu tự dưng mà luật pháp nương tay đối với tuổi vị thành niên. Cái tuổi ấy nó thế. Bất cứ trật tự, quy tắc hay các loại lời khuyên các thứ nào được đưa ra chẳng khác nào úp cho nó một cái lồng sắt, khiến cái bọn lúp xúp trong ấy bó tay bó chân tới phát cuồng . Thế là bọn nó đập phá, gào thét, hút chích, chơi gái, đủ các thử nghiệm. Chỉ để đào bới, rồi chứng minh.Và sau đó gồng gánh những vết thương. Thật ra thì cũng không nghiêm trọng, những cái vết ấy. Vấn đề là, nếu bạn lớn lên, đã từng sạch sẽ và trắng phau như một tờ giấy, thì chỉ cần nhỏ một giọt mực hay một cái gì đó xam xám lên, dù là chút đỉnh góc giấy, bạn sẽ nhìn chằm chằm vào cái vết ấy thôi. Và nghĩ “thôi rồi, hỏng mẹ hết mọi thứ .”

Và đó là cái cách mà cha nội Holden Caulfield lăn xuống dốc. Hắn thi trượt, bị đuổi tới 4 bận.Đánh thằng bạn cùng phòng vì một đứa con gái mà hắn từng cầm tay không biết chán rồi bỏ trường nội trú ra đi với một cái mũi te tua máu.Tới hộp đêm, tới quán rượu, đồng ý trả tiền để có một cô nàng gái làng chơi, tự nhủ rằng: “Đằng nào thì mình cũng đã hỏng”. Hắn khao khát bung ra, khao khát thử nghiệm, khao khát chống lại cả mớ nguyên tắc đang chụp lên đầu, bằng trường học, bằng các bài thi, bằng những tình yêu và kỳ vọng của gia đình hắn. Hắn ra đi, tự do với một cõi lòng hoang mang.

Rồi, hắn có sẵn con dốc vậy đó, và cũng không có ý định kìm hãm tốc độ lăn của mình. Vậy mà tới trang cuối cùng, hắn vẫn không trở thành một thằng hư hỏng. Hắn không biết điều đó, hắn nhất định là hắn hỏng rồi. Nhưng thật ra không phải. Hắn vẫn không làm được cho dù hắn đã chạm tay tới rất nhiều cơ hội. Đến cái giới hạn cuối cùng, hắn đã rụt tay lại. Không phải hắn là một thằng nhát gan. Hắn thừa can đảm đó chứ, dù hắn không thể đấm vào mặt của bất cứ thằng nào cà chớn trước mũi.

Nhưng hắn là thằng ý thức rất rõ ràng về các giá trị. Rõ ràng tới mức không thể trộn lẫn chúng với nhau. Hắn ghét học môn sử, nhưng thừa nhận ông thầy của hắn dạy hay. Nhưng không phải vì ổng dạy hay mà hắn không căm ghét cái cách cười a dua của ổng mỗi khi có tiết dự giờ. Rồi dù có như thế, hắn vẫn tới chia tay ổng, nghe ổng nói hàng tràng về cái bài thi bét nhè của hắn đã bị ông đánh rớt. Hắn thương ổng, nhưng vẫn tởm cái cách ổng ngoáy mũi. Chuyện nào ra chuyện đó.Các giá trị thực chất luôn gim trong đầu hắn, trần trụi, đúng nghĩa thế cả tỉ năm nay rồi nên hắn đâm ra dị ứng với các trò màu mè, phô diễn xung quanh. Hắn nôn mửa vào lũ minh tinh bộ tịch, lũ nhạc công đỏm dáng với cái trò khiêm nhường vờ vĩnh, con mẹ ngồi khóc sụt sùi cạnh hắn trong rạp chiếu bóng bỏ mặc thằng con mắc cầu không ai dắt đi. Hắn ghê tởm trường học, ông thầy hiệu trưởng giả dối trịch thượng, món bít tết vào mỗi chiều thứ sáu dai nhách không kém gì mớ đạo đức giả hắn phải nhai.Hắn phỉ nhổ, nhạo báng, dè bĩu. Và hắn quả thật ngây thơ. Hắn không biết rằng, cả thế giới này, cả cuộc đời này, người ta toàn đối đãi với nhau bằng những trò như thế.

Và vì hắn là một thằng vậy đó. Ngây thơ, cả tin, liều lĩnh. Nên hắn chìm ngập trong một nỗi buồn rằng mình là kẻ bỏ đi. Trong khi người đời cùng lắm nhìn hắn như một kẻ nông nổi vấp váp trong bước trưởng thành, chẳng có gì nghiêm trọng, chẳng có gì bận tâm. Cũng như chẳng ai buồn thắc mắc bầy vịt trong hồ ở công viên sẽ đi đâu vào mỗi mùa đông lạnh nước hồ đóng băng. Chỉ có hắn, băn khoăn mỗi khi ngang hồ cũng như băn khoăn về cuộc đời và những ngã rẽ của hắn. Liệu ở đâu có thể chấp chứa một kẻ mang nhiều thương tích và vết nhơ? Ôi chao, hắn còn sạch sẽ và lạnh lặn gấp tỉ những đứa khác, những kẻ màu mè diêm dúa và đạo đức xung quanh. Mà có đứa nào trong số ấy băn khoăn day dứt chút gì đâu. Chỉ có hắn.

Chỉ có hắn mới đứng sững người trước bức tường viết dòng chữ Đ.M (trong sách viết đầy đủ, hehe) của ngôi trường cấp 1, đau đớn trước viễn cảnh những đứa con nít lớn lên rồi cũng sẽ vấy bẩn như mình. Và hắn, cái đứa có thể tuôn hàng tràng những từ như thế lại đứng hì hụi lau dòng chữ ấy, bất chấp cả sợ hãi rằng có người sẽ hiểu nhầm hắn chính là kẻ viết cái chữ đó.Ngu ghê không. Bởi lẽ ngoảnh tới ngoảnh lui một lát, cái chữ ấy lại xuất hiện, không bằng mực mà khắc ngay vào tường. Tới đây thì hắn bất lực hết cách. Hắn đành thừa nhận là có lẽ cái chữ đó chắc phải nằm cả tỉ nơi trên trái đất, tuôn ra từ miệng hàng tỉ con người. Cái thế giới này, quả thật chẳng thể nào khác được.

Vậy đó Holden Caulfield. Người ta đã học được cách sống chung với những điều xấu xa một cách thanh thản hay vờ như thanh thản từ rất lâu rồi. Còn hắn thì loay hoay mãi. Tại bản chất con người hắn hay tại tuổi 17 của hắn? Tại hắn không hiểu thế giới này hay thế giới này không hiểu lẫn nhau?

Dù sao thì. Holden Caulfield. Mình khoái cha nội này chết đi được.

Cuối cùng. Tại sao lại là “Bắt trẻ đồng xanh”? Đương nhiên không phải chỉ vì trong câu chuyện có một câu hát như thế. Có lẽ là chút mơ mộng nhỏ nhoi của hắn, thằng cha ngây thơ này. Được tự do trong thanh thản.

Nguồn: FB Kafka Bookstore

Cuộc sống ở trước mặt, Romain Gary.

Ảnh: FB Kafka Bookstore
Ảnh: FB Kafka Bookstore

Cuộc sống, nó không phải là thứ dành cho tất cả mọi người. Momo đã rút ra kết luận như thế. Nhưng cuộc sống vẫn dành cho cậu, vẫn dí trước mặt cậu cái bản mặt thê thảm của nó, mà dù muốn, dù không cậu cũng phải đối diện, phải nếm trải bằng tất cả các giác quan. Vì Momo vẫn phải sống.

Những khi tôi cảm thấy đời mình ngập tràn bế tắc, tôi hay nghĩ về Momo, cậu bé Ả Rập lớn lên trong vòng tay một người đàn bà Do Thái đã giải nghệ làm gái đứng đường, về những gì mà cuộc sống dành cho cậu, để thấy rằng, mình thật là may mắn vì không có những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, những thứ đủ sức biến cuộc đời họ thành vũng lầy nhớp nháp mắc míu và đớn đau, như nỗi ám ảnh không bao giờ rũ bỏ nổi.

Trong vũng lầy của cuộc sống, một tình yêu bám rễ như một lý do níu kéo sự tha thiết với cuộc đời. Tình yêu kỳ lạ không thể gọi tên, không giống như tình ruột rà máu mủ, không thuần túy là mối tình giữa đàn ông và đàn bà, dù ở đây ta cũng có một người đàn ông – Momo, mười tuổi (thật ra là đã mười bốn) và một người đàn bà – Madame Rosa, gần bảy mươi. Thứ tình yêu rung động như cổ tích, có thể biến một bà già bủng beo nặng gần một tạ trở thành người phụ nữ đẹp dịu dàng trong trái tim Momo. Người đàn bà Do Thái mang nhiều vết thương và sự ám ảnh, nhiều phong ba vùi dập của cuộc đời. Madame Rosa đã cưu mang một đứa bé mồ côi như Momo, vì miếng cơm manh áo, nhưng rồi đã giữ cậu lại bên mình như một đốm lửa nhỏ sưởi ấm trái tim đơn độc giữa biển đời thê lương của mình. Người đàn bà đã ôm ấp cậu, vỗ về an ủi và chùi đít cho Momo trong những ngày tháng bơ vơ từ thuở còn thơ cho đến ngày cậu lớn. Tình yêu giữa họ lớn hơn cả tình mẫu tử thông thường, nó đến từ hai trái tìm thèm khát tình yêu tới thắt lòng thắt ruột và đơn côi tới rạn nứt cả trái tim. Cuộc sống không cho Momo tình thương và lòng tin, chỉ cho cậu duy nhất một người đàn bà nặng gần một tạ để neo cậu lại với cuộc sống, người đàn bà mà nguy cơ rời bỏ cậu ra đi càng ngày càng gần kề.

– Ông Hamil ơi, người ta có thể sống mà không có tình yêu được không?

– Có.

Momo bật khóc. Cậu biết rằng mình sẽ vẫn phải sống ngay cả khi tình yêu duy nhất của đời mình ra đi. Dù Momo có đổ hàng tấn nước hoa lên người Madame Rosa, nhưng cuối cùng bà vẫn bỏ cậu mà đi bằng cái mùi của tử thi đã hoại. Và bởi thế, cuộc sống này có vị gì đâu. Nó vẫn thản nhiên đi qua bằng gương mặt đanh đanh vô cảm của nó, cùng những đớn đau đã chai sạn trong tâm hồn già cỗi của một đứa bé lên mười – à không, mười bốn chứ. Cuộc sống, dù nó có cứa biết bao nhiêu vết lên Momo, nó vẫn luôn ở trước mặt cậu, nó chẳng thể ở đâu đó khác, nó còn biết ở đâu nữa bây giờ?

Romain Gary luôn khiến tôi cười, mặc dù biết là bi kịch lắm rồi đấy. Ông khiến tôi lạc quan với chút dí dỏm của mình, dù cười đấy mà ruột thắt biết bao nhiêu bận. Nhưng cái cách ông kiên trì cười vào nỗi thống khổ nó khẳng định rằng rồi ông sẽ thắng, kiểu gì rồi ông cũng sẽ thắng. Không biết đây có phải là một liệu pháp tinh thần không, nhưng biết đâu khi ta cười, thì thế gian sẽ cười đáp lại. Biết đâu cuộc sống đen thủi đen thui của Momo sẽ sang sủa lên, dẫu là tôi cũng chẳng biết đào bới niềm hy vọng ấy ở đâu cho đến dòng chữ cuối. Nhưng ôi dào, rồi thì đời sẽ qua. Thật ra thì những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, nó chẳng thể nào tệ hơn được nữa.

Bạn có khóc khi đọc cuốn này không? Tôi không khóc. Nhưng đau đớn. Không phải ai cũng khiến người ta đau đớn thế khi mặt mũi tỉnh queo. Bởi thế tôi tin là Gary là một trong những cây bút thiên tài. Tiếc là ông chẳng còn trên đời nữa.

Nguồn: FB Kafka Bookstore

Ba ơi mình đi đâu, Jean Louis Fournier.

Ảnh: FB Kafka Bookstore
Ảnh: FB Kafka Bookstore

Trào phúng hóm hỉnh – đó là cách tác giả lựa chọn để viết lên câu chuyện của chính mình. Dù đó là một câu chuyện buồn và hơn cả nỗi buồn – đến mức ta chưa kịp nở nụ cười vì sự dí dỏm thì giọt nước mắt đã rơi. Tuy nhiên ở đây, không có chỗ cho sự thương cảm xót xa, không có chỗ cho bi lụy. Chỉ có chỗ cho tình yêu vô điều kiện của người cha dành cho những đứa con trai của mình – dù chúng không phải là một kiệt tác của thượng đế, không phải món quà của Chúa, không phải niềm tự hào hay kỳ vọng. Chúng là nỗi đau đớn thất vọng và sụp đổ không kém gì ngày tận thế.

Người đàn ông này có đến hai ngày tận thế: Mathieu và Thomas – hai đứa con trai tật nguyền và thiểu năng , hai hình hài mãi mãi dừng ở tuổi thứ bảy dù có bước sang tuổi thứ bao nhiêu của cuộc đời, hai trí tuệ mãi mãi non nớt: Mathieu chỉ biết nói “brừm, brừm” và Thomas chỉ biết hỏi “ba ơi, mình đi đâu?”. Hơn hết, chúng là hai nỗi giằng xé trong trái tim người cha, suốt đời dằng vặc, rằng mình đã hỏng hóc ở chỗ nào hoặc cụ kỵ của mình đã sai lầm ở đâu để cuối cùng lại sinh ra những đứa con như vậy

Nhưng cho dù là những đứa con dị dạng, tật nguyền, chúng vẫn là những đứa con được sinh ra từ tình yêu, từ khát khao của cha mẹ. Jean Louis Fournier, số phận của ông là cha của chúng- và ông đã làm tốt vai trò đó. Một người cha với tất cả sự tủi hổ khi thấy con mình thua kém, thiệt thòi, người cha cáu kỉnh giận dữ trước phiền phức mà lũ con mang lại, nhưng vẫn là một người cha với tất cả tình yêu thương dành cho con mình. Người cha lặng lẽ ngắm hai sinh linh bé nhỏ, âu yếm nghĩ về chúng như những con chim sẻ xù lông ốm yếu không đủ sức sải cánh. Ông ấy từng mơ về công và đại bàng, nhưng vẫn yêu những con chim sẻ tầm thường nhỏ nhoi và không ngừng hy vọng về một ngày chúng có thể bay và ngắm bầu trời.

Jean- Louis Fournier không phải là một người đàn ông mạnh mẽ, không phải là một thiên thần để có thể mỉm cười trước sự cay đắng của số phận, trước sự may rủi của trò xổ số di truyền học mà ông đã thua. Ông yếu đuối – nên đau buồn đến phát điên, đến quẫn trí, đến hằn học. Nhưng rồi ông vẫn tiếp tục sống, tiếp tục chiến đấu và hy vọng, vì chính hai đứa con mình, hai con chim sẻ còi cọc tội nghiệp mà ông đã mang chúng vào đời. Rồi học cách cười cợt nỗi đau khổ của mình, mỉa mai sự cay đắng của mình, sống chung với định mệnh của mình. Ông nhận ra mình, ngoài cõi lòng tan nát, vẫn còn hai đứa con, dù không đẹp đẽ xinh xắn, nó vẫn là thiên thần của ông, vẫn là những niềm vui bé nhỏ ngày ngày lấp đầy trái tim thương tổn của ông. Chúng tật nguyền, dị dạng, nhưng tình yêu của ông dành cho chúng là lành lặn và trọn vẹn.

“Ba ơi, mình đi đâu?” Thomas hỏi câu ấy mấy trăm lần, và nó không hề nhớ ra một câu trả lời nào cả. Thực chất ba của nó cũng không có đáp án cho câu hỏi ấy, rằng họ sẽ đi về đâu, phía nào có ánh sáng cho cuộc đời của họ, cho những đớn đau mà họ gánh chịu. Ở đâu có thể cho Thomas sự lành lặn, để làm một người bình thường. Ở đâu có thể đem lại cho Mathieu bầu trời mà không đánh đổi bằng mạng sống. Đến cuối cuộc đời mình, ông ấy biết rằng mình cũng không thể có câu trả lời.

Trong bế tắc và tuyệt vọng, cuối cùng chính người đọc sẽ nhận ra ánh sáng xuất hiện trong câu chuyện này không đến từ một phía nào khác, mà ngay chính trái tim của tác giả. Người đã bằng mọi giá chống đỡ lại số phận khắc nghiệt của mình, bằng mọi giá thắp lên một ngọn lửa cho mình trong căn hầm tối đen. Không thể chờ đợi và hy vọng vào một điều kỳ diệu, chỉ có thể nỗ lực để sống bằng tình thương yêu và những niềm vui do chính mình tạo nên. Đó chính là thứ hạnh phúc căn bản của cuộc đời, và vì thế, dù mỏng manh nhưng không bao giờ tàn lụi.

Nguồn: FB Kafka Bookstore